Quá độ là gì? Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa Xã hội – Simple Seeding

Quá dộ là gì là một trong những từ khóa được search nhiều nhất google về chủ đề quá độ là gì. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về chủ đề “Quá độ là gì? Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa Xã hội”

Quá độ là gì? Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa Xã hội

Phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa và các giai đoạn của nó

Tính tất yếu ớt khách quan của sự ra đời phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa

Xuất phát từ thế giới quan duy vật về lịch sử, C. Mác và Ph. Ẳngghen đã cho rằng, mọi sự biến đổi của những chế độ làng mạc hội trong lịch sử đều là quá trình phát triển lịch sử tự nhiên. Đó là do sự chi phối của quy luật quan hệ sản xuất phải thích hợp với tính chất và khả năng phát triển của lực lượng sản xuất.

[external_link_head]

Với quan niệm trên, C.Mác và Ph.Ẳngghen đã phân tích một cách hết sức khoa học và biện chứng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phân tích và rút ra các quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản. Một mặt, hai ông đã chỉ rõ ràng sự tân tiến lịch sử của chủ nghĩa tư bản, vai trò cực kỳ to lớn của chủ nghĩa tư bản trong việc phát triển sức sản xuất và xóm hội hoá lao động; mặt khác, cũng đã chỉ ra các giới hạn về mặt lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Hai ông đã phân tích  mâu thuẫn giữa tính chất  hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên cơ chế sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và cho rằng, quá trình phát sinh, phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (kể cả việc trở thành các công ty độc quyền lẫn việc trở thành sở hữu của nhà nước) đều không xoá bỏ tính chất tư hữu tư nhân; nó không chỉ tạo ra những tiền đề xóm hội mà quan trọng là đã tạo ra các tiền đề vật chất, kinh tế cho sự phủ định chủ nghĩa tư bản và khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản.

Từ đó C.Mác và Ph.Ẳngghen đã rút ra kết luận, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa sẽ thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đây là tất yếu ớt khách quan, thích hợp với đòi hỏi của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và năng lực phát triển của lực lượng sản xuất. Sự thay thế đó thích hợp với quy luật tiến hoá của lịch sử làng mạc hội con người.

các đặc trưng kinh tế – làng hội cơ bản của chủ nghĩa cộng sản

C. Mác và Ph. Ẳngghen đã phác hoạ những nét lớn về thôn hội cộng sản chủ nghĩa, buôn bản hội sẽ thay thế thôn hội tư bản chủ nghĩa với các đặc trưng kinh tế –  hội cơ bản như sau:

Một là, lực lượng sản xuất  hội phát triển cao.

Lực lượng sản xuất của chủ nghĩa cộng sản phát triển ở năng lực cao, cao hơn nhiều so với chủ nghĩa tư bản. Lực lượng sản xuất đó dựa trên cơ sở áp dụng những kết quả khoa học và công nghệ văn minh nhất. Đó là một nền sản xuất với quy mô lớn và được tiến hành phù hợp với những yêu cầu của khoa học hiện đại, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm cho sự phát triển bền vững.

Hai là, chế độ sở hữu  hội về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu.

Theo C. Mác và Ph. Ẳngghen, chủ nghĩa cộng sản là một cơ chế làng hội dựa trên chế độ chiếm hữu  hội về tư liệu sản xuất, thay thế cho cơ chế chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Vì vậy, chủ nghĩa cộng sản là một cơ chế  hội trong đó quyền lực thuộc về người lao động, cơ chế người bóc lột người bị thủ tiêu, quan hệ giữa người và người là quan hệ hợp tác của những người lao động. C. Mác và Ph. Ẳngghen cũng chỉ ra rằng, không thể thủ tiêu cơ chế tư hữu ngay lập tức được, mà chỉ có thể thực hiện dần dần, và chỉ khi nào tạo lập được một lực lượng sản xuất văn minhlàng hội hoá cao độ với năng suất lao động rất cao thì mới xoá bỏ được cơ chế tư hữu. Sự phát triển tới được trình độ cao đó của lực lượng sản xuất cũng mới chính là điều kiện làm cho mỗi thành viên trong làng mạc hội đều có cơ hội phát triển như nhau.

Ba là, sản xuất nhằm thoả mãn nhu cầu của mọi thành viên trong thôn hội.

Mục đích của nền sản xuất làng hội dưới chủ nghĩa cộng sản là bảo đảm cho mọi thành viên trong làng hội có đời sống vật chất và văn hoá ngày càng phong phú, bảo đảm cho họ phát triển và vận dụng một cách tự do các năng khiếu về thể lực và trí lực của cá nhân mình.

Bốn là, nền sản xuất được tiến hành theo một kế hoạch thống nhất trên phạm vi toàn buôn bản hội và sản xuất hàng hoá bị loại bỏ.

Trong làng mạc hội cộng sản, việc sản xuất được tổ chức một cách có ý thức, có kế hoạch, được thực hiện trên phạm vi toàn làng hội và biến thành một tất yếu kinh tế, có khả năng để thực hiện.

Khi thôn hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên cơ sở của chính nó thì lao động có tính chất làng hội trực tiếp và sự thủ tiêu quan hệ giá trị biến thành tất yếu đuối kinh tế.

Năm là, sự phân phối sản phẩm bình đẳng.

Do sự phát triển cao của lực lượng sản xuất, xóm hội mới sẽ sản xuất ra một lượng sản phẩm dồi dào và được tổ chức phân phối một cách khoa học nhằm thoả mãn nhu cầu của mọi thành viên trong làng mạc hội. Xuất phát từ quan điểm về quan hệ sở hữu quyết định quan hệ phân phối, Ph. Ẳngghen chỉ ra phép tắc chung của sự phân phối trong làng mạc hội mới là phân phối sản phẩm theo sự thoả thuận chung, tức là bằng cái mà người ta gọi là sự cộng đồng về tài sản. Nói cách khác, đó là sự phân phối bình đẳng.

[external_link offset=1]

Sáu là, xoá bỏ sự đối lập giữa thành thị và nông buôn bản, giữa lao động trí óc và lao động chân tay, xoá bỏ giai cấp.

Sự phát triển cao về kinh tế, văn hoá và buôn bản hội sẽ tạo cơ sở để thủ tiêu những sự đối lập đó.

Cần để ý rằng, những đặc trưng kinh tế – làng mạc hội nêu trên là các đặc trưng của thôn hội cộng sản chủ nghĩa. Theo cách nói của C. Mác, đó là buôn bản hội đã phát triển trên những cơ sở của chính nó chứ không phải của “một  hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xóm hội tư bản chủ nghĩa”

.

các giai đoạn của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa

Để thi công làng hội cộng sản chủ nghĩa với những đặc trưng kinh tế – thôn hội cơ bản như trên, theo C.Mác cần phải trải qua hai giai đoạn:

– Giai đoạn đầu, hay giai đoạn thấp.

– Giai đoạn sau hay giai đoạn cao.

C.Mác coi giai đoạn đầu là thời kỳ quá độ chính trị lên giai đoạn cao. “Giữa xóm hội tư bản chủ nghĩa và thôn hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ làng hội nọ lịch sự làng mạc hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của ách thống trị vô sản”.

C.Mác đã chỉ ra rằng, cần phân biệt rõ rệt “xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên các cơ sở của chính nó”

, hay là “giai đoạn cao hơn”2 với “một buôn bản hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ buôn bản hội tư bản chủ nghĩa”3, hay “giai đoạn đầu của làng mạc hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ buôn bản hội tư bản chủ nghĩa ra, sau những cơn đau đẻ dài”

. Mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng.Sau này Lênin gọi giai đoạn đầu là chủ nghĩa làng mạc hội và giai đoạn sau là chủ nghĩa cộng sản.

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa thôn hội

a) Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa buôn bản hội

Vận dụng lý luận của C.Mác và Ph. Ẳngghen vào công cuộc thi công chủ nghĩa  hội ở nước Nga trước đây, V.I.Lênin đã phát triển lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xóm hội. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa làng mạc hội là tất yếu đuối khách quan đối với mọi nước thi công chủ nghĩa làng mạc hội. Tuy nhiên, đối với những nước có lực lượng sản xuất phát triển cao thì thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa buôn bản hội có nhiều thuận lợi hơn, có thể ngắn hơn so với những nước đi lên chủ nghĩa làng mạc hội bỏ qua cơ chế tư bản chủ nghĩa từ nền kinh tế xoàng xĩnh phát triển.

Theo V.I.Lênin, sự quan trọng khách quan phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa làng mạc hội là do đặc điểm ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa và cách mạng vô sản quy định.

Quan hệ sản xuất phong kiến và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đều dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Do vậy, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có thể ra đời từ trong lòng  hội phong kiến. Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đến một năng lực nhất định, sẽ làm thâm thúy thêm mâu thuẫn của buôn bản hội phong kiến, cách mạng tư sản sẽ nổ ra. Nhiệm vụ của cách mạng tư sản chủ yếu chỉ là giải quyết về mặt chính quyền nhà nước, làm cho kiến trúc thượng tầng thích ứng với cơ sở hạ tầng của nó.

Cách mạng vô sản có điểm khác nhau căn bản với cách mạng tư sản. Do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên cơ chế tư hữu về tư liệu sản xuất, còn quan hệ sản xuất  hội chủ nghĩa dựa trên cơ chế công hữu về tư liệu sản xuất, nên chủ nghĩa làng mạc hội không thể ra đời từ trong lòng buôn bản hội tư bản. Phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa chỉ ra đời sau khi cách mạng vô sản thắng lợithống trị vô sản giành được chính quyền và tóm tay vào công cuộc thi công chủ nghĩa xóm hội – giai đoạn đầu của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.

Hơn nữa, sự phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ dài lâu, không thể ngay một lúc có thể hoàn thiện được. Để phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, xây dựng chế độ công hữu buôn bản hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xây dựng kiểu buôn bản hội mới, cần phải có thời gian. Nói cách khác, tất yếu đuối phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa buôn bản hội.

Từ sự phân tích như vậy, V.I.Lênin cho rằng, nếu như cách mạng tư sản thành công đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ quá độ từ làng hội phong kiến lên chủ nghĩa tư bản, thì cách mạng vô sản thành công mới chỉ là sự bắt đầu cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa làng mạc hội.

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa  hội là thời kỳ cải biến cách mạng thâm thúy, triệt để, đầy đủ, từ xóm hội cũ sang trọng buôn bản hội mới – làng hội làng mạc hội chủ nghĩa. Nó diễn ra từ khi cách mạng vô sản thành côngách thống trị vô sản giành được chính quyền, tóm tay vào việc xây dựng làng mạc hội mới và hoàn thành khi thi công thành công các cơ sở của  hội làng mạc hội chủ nghĩa về vật chất – kỹ thuật, kinh tế, văn hoá, tư tưởng. Nói cách khác, hoàn thành thời kỳ quá độ khi đã thi công dứt cả về lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất, cả cơ sở kinh tế lẫn kiến trúc thượng tầng làng hội xóm hội chủ nghĩa.

Đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xóm hội

Đặc điểm căn bản nhất xuyên suốt và bao trùm của thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần và buôn bản hội nhiều giai cấp. Trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế có tính chất quá độ: nó không còn là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng cũng chưa hoàn toàn là nền kinh tế làng mạc hội chủ nghĩa. V.I.Lênin viết: danh từ quá độ có nghĩa là gì ? Vận dụng vào nền kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện giờ, có các thành phần, những bộ phận, những mảng của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thôn hội không ? bất kỳ ai cũng đều thừa nhận là có.

Phân tích thực trạng nền kinh tế của nước Nga lúc đó, V.I.Lênin rút ra có năm thành phần kinh tế là:

– Thành phần kinh tế nông dân gia trưởng.

– Thành phần kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân, tiểu thủ công cá thể và tiểu mến.

– Thành phần kinh tế tư bản tư nhân.

– Thành phần kinh tế tư bản nhà nước.

– Thành phần kinh tế làng hội chủ nghĩa.

Theo V.I.Lênin, trong đó có những thành phần kinh tế cơ bản là: kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế xóm hội chủ nghĩa.

[external_link offset=2]

Tương ứng với nền kinh tế quá độ gồm nhiều thành phần, trong xóm hội cũng tồn tại nhiều giai cấp, trong đó có ba thống trị căn bản là giai cấp tiểu tư sản, ách thống trị tư sản và thống trị công nhân, người lao động cộng đồng.

Nền kinh tế nhiều thành phần và làng mạc hội nhiều giai cấp như trên là sự thống nhất biện chứng những mâu thuẫn của tồn tại  hội. các mâu thuẫn này tóm nguồn từ tính độc lập tương đối về kinh tế do các hình thức chiếm hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định.

Trong thời kỳ quá độ, mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa thôn hội và chủ nghĩa tư bản. Theo V.I.Lênin, thời kỳ quá độ bao gồm tất cả các đặc điểm, đặc tính của chủ nghĩa xóm hội và chủ nghĩa tư bản, là thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa làng mạc hội mới ra đời nhưng còn non yếu ớt với chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tàn phá hoàn toàn. Chính vì tính chất quá độ đó nên trong nền kinh tế quá độ chưa có thành phần kinh tế kẻ thống trị chi phối, mới có thành phần kinh tế nhà nước vươn lên giữ địa vị chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I.Lênin

Vận dụng lý luận của C.Mác vào điều khiếu nại cụ thể của nước Nga, V.I.Lênin đã hoạch định kế hoạch thi công chủ nghĩa buôn bản hội ở nước Nga.

Kế hoạch thi công chủ nghĩa làng hội của V.I.Lênin có liên quan chặt chẽ với chính sách kinh tế mới của ông.

– Điều khiếu nại ra đời của NEP

Không bao lâu sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, việc thực hiện kế hoạch xây dựng chủ nghĩa buôn bản hội của V.I.Lênin bị ngăn cách bởi cuộc nội chiến 0906985239. Trong thời kỳ này, V.I.Lênin đã áp dụng chế độ cộng sản thời chiến. Nội dung cơ bản của chế độ cộng sản thời chiến là trưng thu lương thực thừa của nông dân sau khi dành lại cho họ mức ăn tối thiểu. Đồng thời, xoá bỏ quan hệ hàng hoá – tiền tệ, xoá bỏ việc tự do mua bán lương thực trên thị trường, thực hiện cơ chế cung cấp hiện vật cho quân đội và bộ máy nhà nước.

chính sách cộng sản thời chiến đã nhập vai trò quan trọng trong thắng lợi của Nhà nước Xôviết. Nhờ đó mà quân đội đủ sức để chiến thắng kẻ thù, bảo vệ được Nhà nước Xôviết non trẻ của mình.

Tuy nhiên, khi hoà bình lập lại, chính sách cộng sản thời chiến không còn phù hợp. Nó trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Hậu quả chiến tranh đối với nền kinh tế rất nặng nề, thêm vào đó, chế độ trưng thu lương thực thừa đã làm mất động lực đối với nông dân. Việc xoá bỏ quan hệ hàng hoá – tiền tệ làm mất tính năng động của nền kinh tế vốn dĩ mới bước vào giai đoạn phát triển. Vì vậy, khủng hoảng kinh tế chính trị diễn ra rất sâu sắc. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách kinh tế thích ứng thay thế. chế độ kinh tế mới được V.I.Lênin đề xướng để đáp ứng đòi hỏi này nhằm tiếp tục kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xóm hội trong giai đoạn mới.

– Nội dung và biện pháp chủ yếu của chính sách kinh tế mới

chế độ kinh tế mới của V.I.Lênin bao gồm các nội dung và biện pháp chủ yếu sau:

Một là, thay thế chính sách trưng thu lương thực bằng chính sách thuế lương thực. Theo chính sách này, người nông dân chỉ nộp thuế lương thực với một mức cố định trong nhiều năm. Mức thuế này căn cứ vào điều khiếu nại tự nhiên của đất canh tác. Nói cách khác, “Thuế là cái nhà nước thu của nhân dân mà không bù lại”

. Số lương thực còn lại sau khi nộp thuế, người nông dân được tự do bàn luận, mua bán trên thị trường.Hai là, tổ chức thị trường, yêu thương nghiệp, thiết lập quan hệ hàng hoá – tiền tệ giữa Nhà nước và nông dân, giữa thành thị và nông xóm, giữa công nghiệp và nông nghiệp.

Ba là, sử dụng sức mạnh kinh tế nhiều thành phần, các cách thức kinh tế quá độ như khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân, thợ thủ công; khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân; sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước; củng cố lại các doanh nghiệp nhà nước, chuyển lịch sự cơ chế hạch toán kinh tế. Đồng thời, V.I.Lênin chủ trương phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác kinh tế với những nước tư bản phương Tây để tranh thủ kỹ thuật, vốn và khuyến khích kinh tế phát triển.

Như vậy, khác với thời kỳ nội chiến, trong điều kiện hoà bình, nước Nga Xôviết đã chủ trương khôi phục và phát triển kinh tế dựa trên quy tắc của nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường. Rất tiếc là những tư tưởng đó của V.I.Lênin không được các người kế tục sau này phát triển tiếp tục mà lại đưa nền kinh tế đi lịch sự quỹ đạo của nền kinh tế lãnh đạo.

– Ý nghĩa của NEP

chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin có ý nghĩa vô cùng cần thiết, trước hết nó khôi phục được nền kinh tế Xôviết sau chiến tranh. Chỉ trong một thời gian ngắn đã tạo ra một bước phát triển cần thiết biến “nước Nga đói” thành một quốc gia có nguồn lương thực dồi dào. Từ đó, đã khắc phục được khủng hoảng kinh tế, chính trị; củng cố lòng tin cho nhân dân vào sự thắng lợi tất yếu và thực chất tốt đẹp của chủ nghĩa xóm hội theo các nguyên lý mà V.I.Lênin đã vạch ra.

chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin còn ghi lại một bước phát triển mới về lý luận kinh tế buôn bản hội chủ nghĩa. Theo tư tưởng này, nền kinh tế nhiều thành phần, những hình thức kinh tế quá độ, việc duy trì và phát triển quan hệ hàng hoá – tiền tệ, quan tâm tới lợi ích kinh tế cá nhân trước hết là của nông dân, là những vấn đề có tính chất quy tắc trong việc thi công mô hình kinh tế buôn bản hội chủ nghĩa.

Từ đó chế độ kinh tế mới có ý nghĩa quốc tế to lớn đối với các nước phát triển theo định hướng xóm hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta. những khái niệm kinh tế của Đảng ta nhất là từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V đến nay đã bộc lộ sự nhận thức và vận dụng khái niệm trong chế độ kinh tế mới của V.I. Lênin. tất nhiên, do thời gian và không gian cách xa nhau, trải qua các bất định không giống nhau, nên nhận thức và vận dụng có thể có sự khác biệt, kể cả về bước đi, nội dung và biện pháp chi tiết trong khi tiến hành ở nước ta.

[external_footer]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *